Sai sót trong việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Câu hỏi: Cha mẹ tôi vào miền Nam hơn 30 năm. Lúc đi ông bà có cho ba tôi 1 thửa đất “viết di chúc có chữ ký anh em”. Do làm ăn xa không có điều kiện về quê nên thửa đất đó ông bác đã khai tên mình và ra giấy QSDĐ. Năm 2018 em tôi có vợ nên ba tôi có dịp họp mặt anh em trong nhà và đề nghị ông bác trả lại thửa đất lại để cho em tôi đến nay vẫn chưa có trả lời. Vì vậy ba tôi định làm đơn ra chính quyền để xin giải quyết không biết trường hợp này có hợp lý không (hiện ba tôi vẫn còn giữ di chúc và người ký tên vẫn còn sống).

Trả lời: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tư vấn đến Công ty Luật 36, trường hợp này chúng tôi xin tư vấn như sau:

Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết nên nếu ông bà bạn để lại di chúc cho bố bạn được thừa kế mảnh đất thì chỉ sau khi ông bà mất, ba bạn mới được quyền sử dụng mảnh đất này theo nội dung di chúc theo quy định tại Điều 624 BLDS 2015:

“Điều 624. Di chúc

Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.”

Nếu ông bà bạn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất này cho bác bạn thì việc bác được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là hợp pháp, ba bạn sẽ không thể đòi lại mảnh đất này kể cả khi có di chúc và người ký tên vẫn còn sống. Hoặc trường hợp ông bà bạn chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng đủ điều kiện được cấp và làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng cho bác bạn từ trước ngày 1/7/2014 thì việc bác bạn được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu không trái quy định của pháp luật và ba bạn sẽ không thể đòi lại phần đất mà bác bạn được cấp Giấy chứng nhận hợp pháp.

Nếu ông bà bạn thực hiện việc tặng cho cho bố bạn bằng giấy viết tay và có chữ ký anh em từ 30 năm trước và có căn cứ cho thấy việc bác bạn được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là trái quy định của pháp luật thì bạn có thể kiến nghị bằng văn bản tới văn phòng đăng ký đất đai để họ xem xét thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho người bác theo quy định tại điểm c Khoản 4 Điều 87 Nghị định 43/2014/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi điểm c Khoản 56 Điều 2 Nghị định 01/2017/NĐ-CP như sau:

“c) Trường hợp người sử dụng đất phát hiện Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật về đất đai thì gửi kiến nghị bằng văn bản đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có trách nhiệm kiểm tra, xem xét quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật về đất đai”

Hoặc bạn có thể gửi đơn ra Tòa án cấp huyện yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp theo thủ tục tố tụng hành chính.

Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS 2015) quy định về thẩm quyền của Tòa án đối với quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức, cụ thể như sau:

“1. Khi giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết.

2. Quyết định cá biệt quy định tại khoản 1 Điều này là quyết định đã được ban hành về một vấn đề cụ thể và được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể. Trường hợp vụ việc dân sự có liên quan đến quyết định này thì phải được Tòa án xem xét trong cùng một vụ việc dân sự đó.

3. Khi xem xét hủy quyết định quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án phải đưa cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền đã ban hành quyết định tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền đã ban hành quyết định phải tham gia tố tụng và trình bày ý kiến của mình về quyết định cá biệt bị Tòa án xem xét hủy.

4. Thẩm quyền của cấp Tòa án giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp có xem xét việc hủy quyết định cá biệt quy định tại khoản 1 Điều này được xác định theo quy định tương ứng của Luật tố tụng hành chính về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án nhân dân cấp tỉnh.”

Trường hợp bác bạn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu nhưng không phải do có văn bản chuyển nhượng của ông bà bạn thì bạn có thể chứng minh về việc ông bà bạn mới là người đang trực tiếp sử dụng đất và có đủ căn cứ để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông bà theo quy định tại luật Đất đai 2013 và những Nghị định, Thông tư hướng dẫn. Sau đó, bạn có thể kiến nghị hoặc đến phòng Tài nguyên – Môi trường hoặc Ủy ban nhân dân cấp huyện để Ủy ban xem xét thu hồi Giấy chứng nhận cấp sai.

Như vậy, ba bạn sẽ chỉ có thể đòi lại được phần đất nếu ba bạn có căn cứ để chứng minh về việc bác bạn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là trái với quy định của pháp luật đất đai về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bạn có thể chứng minh thông qua những hồ sơ, giấy tờ địa chính hoặc những văn bản thể hiện về quyền sử dụng đất hợp pháp hoặc bản ghi âm, ghi hình hoặc lời khai của người làm chứng,…

Trên đây là ý kiến trả lời cho câu hỏi của Bạn với các thông tin mà Bạn đã cung cấp dựa trên các quy định của Pháp luật hiện hành. Trong trường hợp Bạn cần làm rõ hơn các vướng mắc hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác, Bạn vui lòng liên hệ tới Đường dây nóng: 0936.92.36.36 để được Phục vụ & Giải đáp. Trân trọng cám ơn !

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chat với chúng tôi